binance left Coinmarketcap net_left adver left

Dự báo 2022: Lãi suất sẽ giữ ở mức thấp kỷ lục?

01 Tháng Giêng 2022
Dự báo 2022: Lãi suất sẽ giữ ở mức thấp kỷ lục? Dự báo 2022: Lãi suất sẽ giữ ở mức thấp kỷ lục?

Vietstock - Dự báo 2022: Lãi suất sẽ giữ ở mức thấp kỷ lục?

Lãi vay ảnh hưởng lớn đến sự phục hồi của các doanh nghiệp. Thế nên, lãi vay tăng hay giảm trong năm 2022, năm của phục hồi và tăng trưởng kinh tế là vấn đề mà người dân, doanh nghiệp và rất nhiều người quan tâm.

Lãi suất chịu áp lực lạm phát

Thời điểm cuối năm 2021, một số ngân hàng có động thái tăng lãi suất huy động, thậm chí thị trường đã xuất hiện mức lãi suất tiết kiệm trên 10%/năm. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng gần gấp đôi so với đầu tháng 12, dao động từ 1,34 - 3,37%/năm. Điều nảy sẽ ảnh hưởng gì tới lãi vay năm 2022?

Dự báo lãi suất cho vay khó tăng trong thời gian tới. Ngọc Thắng

TS Cấn Văn Lực - chuyên gia kinh tế trưởng BIDV (HM:BID) và nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV cho rằng bước qua năm 2022, lãi suất huy động có thể tăng nhẹ do áp lực lạm phát khi nhu cầu vốn tăng sau khi nền kinh tế phục hồi. Thế nhưng lãi suất cho vay cơ bản ổn định theo định hướng chung của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) để hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy phục hồi kinh tế - xã hội. Lãi suất điều hành (tái cấp vốn) của NHNN hiện nay là 4% và theo ông Lực, mức này không nên giảm nữa nếu không muốn đánh tín hiệu lãi suất tiền gửi giảm, ảnh hưởng tới tiền gởi trong dân cư. Thực tế năm 2021, người dân đã gửi tiền ngân hàng ít đi và chuyển một phần lớn sang đầu tư chứng khoán, bất động sản... Còn lãi suất cho vay hiện nay ở mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua và cũng không phải là điểm nghẽn bởi vì tín dụng vẫn tăng.

“Lãi suất sẽ giữ ở mức thấp kỷ lục”, đó là nhận định của Ngân hàng UOB cho phần dự báo lãi suất vào năm 2022. Theo phân tích của nhà băng này, lạm phát năm 2021 dự báo tăng vừa phải 1,9% so với 3,2% năm 2020 và sau đó tăng lên 3,2% vào năm 2022. Với bối cảnh lạm phát tương đối lành tính và triển vọng không chắc chắn do biến chủng Omicron mới xuất hiện của dịch Covid-19 ngay khi đất nước lấy lại vị thế sau làn sóng lây nhiễm vừa qua, NHNN có khả năng sẽ giữ ổn định chính sách của mình để hỗ trợ các nỗ lực phục hồi. Với kỳ vọng tình hình sẽ được quản lý tốt giống như đã từng xảy ra trước đây, nên cả lãi suất tái cấp vốn ở mức 4% và lãi suất tái chiết khấu ở mức 2,5% sẽ vẫn giữ ở mức thấp kỷ lục ở thời điểm hiện tại.

Lãi suất ổn định để hỗ trợ kinh tế phục hồi

Dự báo lãi suất năm 2022, GS-TS Trần Ngọc Thơ - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia nhận định: “Lãi suất không thể tăng trong thời gian tới, ngay cả khi lạm phát có xuất hiện đi nữa thì cũng phải giữ cho lãi suất ổn định để hỗ trợ nền kinh tế. Trường hợp lạm phát không có hoặc thấp thì kéo lãi suất giảm xuống nữa”. Theo vị giáo sư này, khả năng lạm phát xuất hiện nhưng sẽ kiểm soát được. Nếu lạm phát đi đúng như dự báo của các quốc tế rằng toàn cầu đến giữa năm 2022 sẽ giảm thì sẽ tác động lạm phát trong nước giảm phần nào, làm giảm đi sức ép lên lãi suất. Nhưng biến chủng Omicron vẫn là một ẩn số để đánh giá trong thời gian tới. Nếu diễn biến phức tạp hơn, làm chuỗi cung ứng bị tắc lần nữa sẽ dẫn đến chi phí tăng lên, giá nhập khẩu tăng lên, mọi thứ tăng lên hết thì chỉ số lạm phát chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng.

Liên quan đến gói tín dụng bù lãi suất có quy mô 40.000 tỉ đồng, tương đương dư nợ tín dụng 1 triệu tỉ đồng, ông Trần Ngọc Thơ cho rằng gói bù lãi suất 3 - 4%/năm nếu triển khai trong thời gian tới sẽ là niềm động viên đối với doanh nghiệp. Thế nhưng bù lãi suất không phải là lãi suất chính sách mà mang tính lãi suất định hướng vào nhóm đối tượng nào đó được ưu tiên vay. Chính vì vậy, gói tín dụng này nếu không đủ lớn cũng khó có thể tác động đến lãi suất thị trường.

Đồng quan điểm, TS Hồ Quốc Tuấn - Giảng viên cao cấp, kế toán và tài chính tại Đại học Bristol (Anh) cho rằng gói hỗ trợ lãi suất khả năng sẽ hướng đến những lĩnh vực khôi phục lại được, những doanh nghiệp còn hoạt động, từ đó kéo hoạt động sản xuất trở lại, tăng trưởng kinh tế dù dịch có quay trở lại hay không. Nếu lạm phát trong nước dưới 5% thì không áp lực quá lớn để thay đổi lãi suất. Lãi suất vay sẽ được cố giữ ở mức hiện tại hoặc có thể điều chỉnh giảm đôi chút vì nền kinh tế vẫn đang cần được hỗ trợ.

“Về dài hạn, khi lãi suất cho vay có thể bắt đầu tăng lên sẽ là là một tín hiệu lạc quan cho nền kinh tế, chứ ngân hàng mà thanh khoản dồi dào, dư thừa tiền trong năm 2022 nữa thì chứng tỏ doanh nghiệp “chết” rồi nên không thể vay nữa, hoặc ngân hàng thấy kinh tế quá rủi ro không dám cho vay. Khi nền kinh tế phục hồi, nhu cầu vốn của doanh nghiệp lớn sẽ tăng lên từ từ, room tín dụng từ 12% đổ lại thì lãi suất sẽ không quá căng thẳng. Còn nếu nhu cầu vốn tăng quá mạnh không chừng lãi vay lại bị kéo lên. Nhưng đó cũng sẽ là tín hiệu kinh tế phục hồi”, ông Hồ Quốc Tuấn nhận xét.

Trước những thách thức của lạm phát, ông Phạm Thanh Hà - Phó thống đốc NHNN cho rằng, đây là vấn đề toàn cầu và ngân hàng trung ương các nước đang thu lại biện pháp nới lỏng tiền tệ, điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, NHNN cũng sẽ theo dõi sát các nguy cơ, rủi ro gia tăng lạm phát để điều hành chính sách tiền tệ một cách phù hợp. Sẽ tiếp tục duy trì thanh khoản cho hệ thống, ổn định mặt bằng lãi suất để hỗ trợ đà phục hồi kinh tế nhưng cũng không chủ quan đối với lạm phát. Việc đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng hỗ trợ nền kinh tế đi đôi với đảm bảo an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng có thể thực hiện được khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh việc tăng vốn, đặc biệt trong bối cảnh thị trường chứng khoán đang phát triển mạnh như hiện nay. Tựu chung lại, trong năm 2022, điều hành chính sách tiền tệ của NHNN sẽ phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ đà phục hồi kinh tế, thích ứng linh hoạt, kịp thời với các biến động của kinh tế vĩ mô và thị trường.

Thanh Xuân

Để lại bình luận
ig right nyse right Neteller adver right
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
rakuten_main right top net_home_top ig_main right top Binance _ main right top fbs_main right top tifia_main right top
29-01-2022 05:30:37 (UTC+7)

EUR/USD

1.1150

+0.0007 (+0.06%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

EUR/USD

1.1150

+0.0007 (+0.06%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

GBP/USD

1.3408

+0.0023 (+0.17%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

USD/JPY

115.22

-0.12 (-0.10%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (4)

Sell (1)

AUD/USD

0.6990

-0.0041 (-0.58%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (2)

Sell (5)

USD/CAD

1.2764

+0.0024 (+0.18%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (4)

Sell (4)

EUR/JPY

128.46

-0.06 (-0.05%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (1)

Sell (4)

EUR/CHF

1.0381

+0.0013 (+0.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

Gold Futures

1,790.10

-3.00 (-0.17%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

Silver Futures

22.485

-0.191 (-0.84%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

Copper Futures

4.3297

-0.0938 (-2.12%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Crude Oil WTI Futures

87.31

+0.70 (+0.81%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

Brent Oil Futures

89.00

+0.83 (+0.94%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (5)

Sell (2)

Natural Gas Futures

4.667

+0.384 (+8.97%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

US Coffee C Futures

235.85

+3.80 (+1.64%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Euro Stoxx 50

4,136.91

-48.06 (-1.15%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (2)

S&P 500

4,431.85

+105.34 (+2.43%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (6)

Sell (0)

DAX

15,318.95

-205.32 (-1.32%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

FTSE 100

7,466.07

-88.24 (-1.17%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (4)

Sell (4)

Hang Seng

23,550.08

-256.92 (-1.08%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

US Small Cap 2000

1,955.70

+24.41 (+1.26%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

IBEX 35

8,609.80

-96.20 (-1.10%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (6)

Sell (0)

BASF SE NA O.N.

68.510

+0.060 (+0.09%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

Bayer AG NA

52.83

+0.25 (+0.48%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

Allianz SE VNA O.N.

227.80

-0.90 (-0.39%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (10)

Sell (1)

Adidas AG

236.15

-6.00 (-2.48%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Deutsche Lufthansa AG

6.791

-0.254 (-3.61%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

Siemens AG Class N

138.34

-2.16 (-1.54%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

Deutsche Bank AG

11.912

-0.008 (-0.07%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

 EUR/USD1.1150↑ Sell
 GBP/USD1.3408↑ Buy
 USD/JPY115.22Neutral
 AUD/USD0.6990Sell
 USD/CAD1.2764Sell
 EUR/JPY128.46Sell
 EUR/CHF1.0381↑ Sell
 Gold1,790.10Buy
 Silver22.485↑ Buy
 Copper4.3297↑ Sell
 Crude Oil WTI87.31Buy
 Brent Oil89.00Buy
 Natural Gas4.667↑ Sell
 US Coffee C235.85↑ Sell
 Euro Stoxx 504,136.91↑ Buy
 S&P 5004,431.85↑ Buy
 DAX15,318.95Buy
 FTSE 1007,466.07Neutral
 Hang Seng23,550.08↑ Buy
 Small Cap 20001,955.70↑ Buy
 IBEX 358,609.80↑ Buy
 BASF68.510↑ Buy
 Bayer52.83↑ Buy
 Allianz227.80↑ Buy
 Adidas236.15↑ Buy
 Lufthansa6.791↑ Buy
 Siemens AG138.34↑ Buy
 Deutsche Bank AG11.912↑ Buy
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,170/ 6,230
(0/ 0) # 1,327
SJC HCM6,180/ 6,250
(0/ 0) # 1,333
SJC Hanoi6,180/ 6,252
(0/ 0) # 1,335
SJC Danang6,180/ 6,252
(0/ 0) # 1,335
SJC Nhatrang6,180/ 6,252
(0/ 0) # 1,335
SJC Cantho6,180/ 6,252
(0/ 0) # 1,335
Cập nhật 29-01-2022 05:30:39
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,792.11-4.89-0.27%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩmVùng 1Vùng 2
RON 95-IV2486025350
RON 95-II,III
E5 RON 92-II2359024060
DO 0.05S1890019270
DO 0,001S-V1925019630
Dầu hỏa1779018140
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD22.470,0022.780,00
EUR24.449,3926.003,22
GBP29.369,5930.841,11
JPY189,35201,87
KRW16,1119,77
Cập nhật lúc 17:29:25 29/01/2022
Xem bảng tỷ giá hối đoái
binance main right Fxpro Main Right aetos main right adver main right