binance left Huobi Global Coinmarketcap net_left Phương Thức Thanh Toán

IMF vẫn lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

04 Tháng Năm 2022
IMF vẫn lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam IMF vẫn lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Vietstock - IMF vẫn lạc quan về triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam

Theo báo cáo mới nhất của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), GDP khu vực châu Á được dự báo sẽ tăng trưởng 4,9% trong năm 2022, giảm 0,5 điểm phần trăm so với dự báo được đưa ra vào tháng 1 và tốc độ tăng trưởng này cũng thấp hơn so với mức 6,5% của năm trước...

Triển khai nhanh chóng, hiệu quả Chương trình Phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội sẽ có ý nghĩa then chốt trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Chia sẻ tại buổi họp báo về triển vọng kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương gần đây, bà Anne-Marie Gulde-Wolf, Giám đốc điều hành IMF khu vực châu Á – Thái Bình Dương cho biết: “Triển vọng của khu vực châu Á giống như phần lớn các nước trên thế giới đã bị ảnh hưởng bởi xung đột ở Ukraine. Châu Á có quan hệ thương mại và tài chính trực tiếp tương đối nhỏ với Nga và Ukraine, nhưng phạm vi tiếp cận của các nền kinh tế của các nước này sẽ bị ảnh hưởng do giá hàng hóa cao hơn và tăng trưởng chậm hơn ở các nước châu Âu. Sự tụt hạng ở châu Á thấp hơn ở châu Âu, nơi có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn với Nga và Ukraine, nhưng nhiều hơn so với các khu vực xuất khẩu hàng hóa như Trung Đông, Bắc Phi và Mỹ Latinh”.

Châu Á vẫn là khu vực năng động nhất thế giới

Mặc dù bị tụt hạng, theo bà Gulde-Wolf, châu Á vẫn là khu vực năng động nhất thế giới và là nguồn quan trọng của tăng trưởng toàn cầu. Lạm phát trong khu vực đang bắt đầu tăng, dự kiến sẽ tăng lên 3,4% vào năm 2022, cao hơn 1 điểm phần trăm so với dự báo trong tháng 1.

Chia sẻ với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Gulde-Wolf cho rằng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2022 và 2023 sẽ tăng trở lại.

“Việt Nam thực sự là một trường hợp thành công sớm trong việc đối phó với Covid-19. Vì vậy, vào năm 2020, Việt Nam đạt mức tăng trưởng nhanh nhất ở toàn châu Á. Tuy nhiên, thật không may, điều đó cũng khiến chiến dịch tiêm chủng bắt đầu chậm chạp và vào năm 2021, chúng tôi đã chứng kiến sự sụt giảm đáng kể về tốc độ tăng trưởng, từ hơn 5% xuống còn 2,6%, do ảnh hưởng của một làn sóng Covid-19 mới. Hiện tại, chúng tôi nhận thấy những dấu hiệu của nền kinh tế đang phục hồi mạnh mẽ do Việt Nam đã có một chiến dịch tiêm chủng rất thành công. Doanh số bán lẻ, sản xuất và xuất khẩu tăng, chính sách “sống chung với Covid-19” đã có những tác động tích cực so với trước đây”, bà Gulde-Wolf nói.

Bà Gulde-Wolf cho biết, IMF dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2022 là 6% và 7,2% vào năm 2023, khi nền kinh tế bình thường hóa và IMF nhận thấy gói hỗ trợ tài khóa được phê duyệt gần đây là phù hợp và bắt đầu phát huy tác dụng.

Trước đó, đoàn cán bộ của IMF do bà Era Dabla-Norris làm trưởng đoàn đã tiến hành các cuộc thảo luận trong khuôn khổ đợt tham vấn Điều khoản IV năm 2022 với Việt Nam trong thời gian từ ngày 4 đến ngày 20/4/2022. Đoàn đã thảo luận với lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương, Quốc hội và một số cơ quan nhà nước khác. Đoàn cũng đã gặp và làm việc với nhiều đại diện đến từ khu vực doanh nghiệp, các cơ quan nghiên cứu chính sách và các bên liên quan khác.

Kết thúc chuyến làm việc, bà Dabla-Norris đưa ra tuyên bố:

Nhờ có chiến dịch triển khai tiêm vaccine đầy ấn tượng và các chính sách hỗ trợ tăng trưởng, nền kinh tế đang hồi phục sau làn sóng bùng phát dịch nghiêm trọng trong năm 2021. Tuy nhiên, cho đến nay sự phục hồi diễn ra không đồng đều, khu vực dịch vụ vẫn đang hồi phục một cách chậm chạp, trong khi các rủi ro tài chính và bất bình đẳng dường như đã gia tăng.

Tiến trình phục hồi được dự báo sẽ mạnh lên nhờ Chương trình Phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội được thông qua gần đây. Cuộc xung đột ở Ucraina được dự báo sẽ có tác động vừa phải đến tốc độ phục hồi và lạm phát. Mặc dù giá cả hàng hóa nguyên liệu thô đang tăng lên, lạm phát cho đến nay vẫn được kiểm soát và được dự báo vẫn nằm dưới mục tiêu 4% mà các cơ quan chức năng đề ra, điều này phần nào cho thấy các hoạt động kinh tế còn cầm chừng.

Những vấn đề cần lưu ý

“Triển vọng trong thời gian tới có nhiều rủi ro đáng kể”, báo cáo của IMF nhận định. Các rủi ro tăng trưởng thiên về hướng làm giảm tăng trưởng, trong khi các rủi ro lạm phát thiên về hướng làm tăng lạm phát. Các rủi ro trước mắt bao gồm sự gia tăng căng thẳng địa chính trị và suy giảm tăng trưởng ở Trung Quốc. Các rủi ro khác là sự thắt chặt các điều kiện tài chính toàn cầu và những diễn biến trên thị trường bất động sản và thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

“Nhanh chóng xây dựng chính sách, quy mô và cơ cấu gói hỗ trợ chính sách nên được điều chỉnh linh hoạt theo tốc độ phục hồi. Chính sách tài khóa nên đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ chính sách, đặc biệt trong trường hợp các rủi ro làm suy giảm tăng trưởng trở thành hiện thực, vì dư địa cho việc tiếp tục nới lỏng tiền tệ là rất hạn chế trong bối cảnh các rủi ro lạm phát đang gia tăng”, bà Dabla-Norris lưu ý.

Triển khai nhanh chóng, hiệu quả Chương trình Phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội sẽ có ý nghĩa then chốt trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Chương trình này đã ưu tiên lĩnh vực y tế, phục hồi kinh tế và triển vọng tăng trưởng trung hạn. Trong thời gian tới, chính sách tài khóa sẽ cần cân bằng giữa một bên là hỗ trợ có mục tiêu mang tính tạm thời với một bên là thúc đẩy quá trình chuyển đổi kinh tế. Thâm hụt tài khóa chung được dự báo sẽ tăng vừa phải trong năm 2022.

Chính sách tiền tệ nên tiếp tục thận trọng trước các áp lực lạm phát đang gia tăng. Nếu xuất hiện các áp lực lạm phát dai dẳng, Ngân hàng Nhà nước nên thắt chặt vị thế chính sách tiền tệ và truyền thông rõ ràng các yếu tố dẫn dến quyết định này để giúp kiểm soát lạm phát. Trong thời gian tới, chính sách tăng trưởng tín dụng nên cân bằng hợp lý giữa thúc đẩy phục hồi kinh tế và đảm bảo ổn định tài chính. Đoàn công tác của IMF hoan nghênh những bước đi gần đây nhằm tăng cường sự linh hoạt của tỷ giá và hiện đại hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ.

Đại diện của IMF cũng cho biết tăng cường sức chống chịu của khu vực ngân hàng là thiết yếu để hỗ trợ một cách bền vững cho tăng trưởng trong trung hạn. Nên chấm dứt nới lỏng các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng khi sự phục hồi trở nên mạnh mẽ hơn. Các quy định cho phép cơ cấu lại nợ mà vẫn giữ nguyên nhóm nợ không nên được gia hạn áp dụng sau thời hạn tháng 6/2022 vì điều này sẽ làm chậm trễ việc ghi nhận các tài sản xấu và có thể làm trầm trọng thêm tình trạng phân bổ tín dụng sai lệch và chấp nhận rủi ro quá mức.

“Cần có những cải cách cơ cấu quyết liệt hơn để hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng bao trùm, bền vững của Việt Nam. Môi trường kinh doanh nên được cải thiện thông qua việc kiến tạo một sân chơi bình đẳng về tiếp cận đất đai, tài chính, và giảm thiểu gánh nặng các quy định quản lý, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các doanh nghiệp còn non trẻ. Cần nỗ lực hơn nữa để nâng cao chất lượng của lực lượng lao động và giảm mất cân đối cung cầu kỹ năng lao động. Các chính sách cần lưu tâm đến những hàm ý đối với bất bình đẳng thu nhập và tài sản, vì kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự gia tăng bất bình đẳng sẽ làm suy giảm tăng trưởng. Nên tiếp tục duy trì những nỗ lực nhằm tăng cường quản trị, khắc phục các khoảng trống dữ liệu khi Việt Nam đang hướng tới các chuẩn mực của nền kinh tế mới nổi”, bà Dabla-Norris kết luận.

Thu Trang

Để lại bình luận
Hot Auto Trade Bot ig right nyse right Neteller Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
rakuten_main right top net_home_top Ai VIF Binance _ main right top fbs_main right top tifia_main right top
25-05-2022 04:57:25 (UTC+7)

EUR/USD

1.0734

0.0000 (0.00%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (6)

Sell (0)

EUR/USD

1.0734

0.0000 (0.00%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (6)

Sell (0)

GBP/USD

1.2534

+0.0005 (+0.04%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

USD/JPY

126.85

+0.04 (+0.04%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (1)

Sell (4)

AUD/USD

0.7107

+0.0004 (+0.06%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

USD/CAD

1.2820

+0.0003 (+0.02%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (6)

EUR/JPY

136.16

+0.05 (+0.04%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (9)

Sell (3)

Indicators:

Buy (4)

Sell (1)

EUR/CHF

1.0311

+0.0004 (+0.04%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (5)

Sell (2)

Gold Futures

1,865.50

+17.70 (+0.96%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (5)

Sell (1)

Silver Futures

22.115

+0.392 (+1.80%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (3)

Sell (3)

Copper Futures

4.3133

-0.0322 (-0.74%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

Crude Oil WTI Futures

110.26

-0.03 (-0.03%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

Brent Oil Futures

111.00

+0.05 (+0.05%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

Natural Gas Futures

8.875

+0.048 (+0.54%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (11)

Sell (0)

US Coffee C Futures

213.83

-1.92 (-0.89%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (1)

Euro Stoxx 50

3,647.56

-60.83 (-1.64%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

S&P 500

3,941.48

-32.27 (-0.81%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (2)

Sell (6)

DAX

13,919.75

-255.65 (-1.80%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (5)

FTSE 100

7,484.35

-29.09 (-0.39%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (2)

Sell (5)

Hang Seng

20,112.10

-357.96 (-1.75%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

US Small Cap 2000

1,768.22

-24.55 (-1.37%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (7)

Sell (2)

IBEX 35

8,631.20

+5.40 (+0.06%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

BASF SE NA O.N.

48.755

-0.980 (-1.97%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

Bayer AG NA

63.29

-1.18 (-1.83%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (5)

Sell (2)

Allianz SE VNA O.N.

197.86

-1.52 (-0.76%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (4)

Sell (4)

Adidas AG

171.20

-4.28 (-2.44%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (1)

Sell (4)

Deutsche Lufthansa AG

6.496

-0.407 (-5.90%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Siemens AG Class N

114.20

-2.50 (-2.14%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

Deutsche Bank AG

10.084

+0.066 (+0.66%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

 EUR/USD1.0734↑ Buy
 GBP/USD1.2534↑ Buy
 USD/JPY126.85Sell
 AUD/USD0.7107↑ Sell
 USD/CAD1.2820↑ Sell
 EUR/JPY136.16Buy
 EUR/CHF1.0311↑ Buy
 Gold1,865.50Buy
 Silver22.115Neutral
 Copper4.3133↑ Buy
 Crude Oil WTI110.26↑ Buy
 Brent Oil111.00↑ Sell
 Natural Gas8.875↑ Buy
 US Coffee C213.83↑ Buy
 Euro Stoxx 503,647.56Neutral
 S&P 5003,941.48Neutral
 DAX13,919.75↑ Sell
 FTSE 1007,484.35Sell
 Hang Seng20,112.10↑ Buy
 Small Cap 20001,768.22↑ Buy
 IBEX 358,631.20↑ Buy
 BASF48.755↑ Buy
 Bayer63.29Neutral
 Allianz197.86Sell
 Adidas171.20Neutral
 Lufthansa6.496↑ Buy
 Siemens AG114.20↑ Buy
 Deutsche Bank AG10.084↑ Sell
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,900/ 6,990
(0/ 0) # 1,765
SJC HCM6,900/ 6,990
(0/ 0) # 1,764
SJC Hanoi6,900/ 6,992
(0/ 0) # 1,766
SJC Danang6,900/ 6,992
(0/ 0) # 1,766
SJC Nhatrang6,900/ 6,992
(0/ 0) # 1,766
SJC Cantho6,900/ 6,992
(0/ 0) # 1,766
Cập nhật 25-05-2022 04:57:27
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,866.42+12.650.68%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩmVùng 1Vùng 2
RON 95-V31.25031.870
RON 95-III30.65031.260
E5 RON 92-II29.63030.220
DO 0.05S25.55026.060
DO 0,001S-V26.35026.870
Dầu hỏa 2-K24.40024.880
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI$109.59-0.55-0.50%
Brent$111.28-0.02-0.02%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD23.040,0023.350,00
EUR24.230,6125.587,89
GBP28.221,9329.425,91
JPY177,16187,56
KRW15,8619,33
Cập nhật lúc 18:54:49 24/05/2022
Xem bảng tỷ giá hối đoái
binance main right Fxpro Main Right aetos main right Phương Thức Thanh Toán