net_left Phương Thức Thanh Toán
Phương Thức Thanh Toán

Lùi thời hạn thanh toán trái phiếu doanh nghiệp thêm một năm? Thị trường 25/11

Theo Dong Hai AiVIF.com – Thị trường Việt Nam phiên giao dịch cuối tuần có 3 tin tức cần chú ý: Hiệp hội Bất động sản TP.HCM đề nghị Bộ Tài chính trình Chính phủ cho phép gia...
Lùi thời hạn thanh toán trái phiếu doanh nghiệp thêm một năm? Thị trường 25/11 © Reuters

Theo Dong Hai

AiVIF.com – Thị trường Việt Nam phiên giao dịch cuối tuần có 3 tin tức cần chú ý: Hiệp hội Bất động sản TP.HCM đề nghị Bộ Tài chính trình Chính phủ cho phép gia hạn kỳ hạn của trái phiếu thêm một năm để giảm áp lực và tăng niềm tin cho thị trường trái phiếu, Trung Quốc lại phong tỏa diện rộng sau hai tuần nới lỏng và tỷ giá USD ngày 25/11: NHNN hạ tỷ giá bán tham khảo… Dưới đây là nội dung chính:

1. Lùi thời hạn thanh toán trái phiếu doanh nghiệp thêm một năm?

Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) vừa có văn bản gửi tới Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng và UBND TP.HCM báo cáo về những vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện các dự án bất động sản trên địa bàn thành phố và đề xuất một số giải pháp tháo gỡ.

Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển chưa ổn định, bền vững có nguyên nhân do thị trường vốn chưa phát triển đồng bộ, tương xứng, bởi lẽ thị trường bất động sản cần nguồn vốn đầu tư trung, dài hạn, nhưng lại đang phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn tín dụng. Vì vậy, phải giải quyết bài toán vốn cho doanh nghiệp, khơi thông thị trường vốn, thị trường tín dụng, tháo gỡ nút thắt vốn, tín dụng đang là điểm nghẽn của nền kinh tế và thị trường bất động sản.

Hiệp hội đề nghị Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước xem xét nơi room tín dụng thêm khoảng 1% (tăng trưởng tín dụng năm 2022 lên 15%) để có thêm khoảng 100.000 tỷ đồng bơm cho nền kinh tế, trong đó thị trường bất động sản hấp thụ khoảng 20%. Mục đích nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, người mua nhà và nhà đầu tư được tiếp cận nguồn vốn tín dụng đối với các dự án đã có đầy đủ pháp lý, có tính khả thi, các dự án đang xây dựng dở dang,... Ngoài ra, HoREA đề nghị Bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung Nghị định 65 theo hướng quy định chặt chẽ để đảm bảo nâng cao năng lực của doanh nghiệp phát hành trái phiếu, đơn vị tư vấn đánh giá tín nhiệm, đơn vị tư vấn phát hành trái phiếu.

Bên cạnh các biện pháp mà doanh nghiệp phát hành trái phiếu đã thực hiện như mua lại trái phiếu trước thời hạn (khoảng 147.000 tỷ đồng trong 10 tháng đầu năm 2022), hoặc thỏa thuận hoán đổi trái phiếu lấy nhà ở của dự án với mức chiết khấu hấp dẫn (gần đây, các doanh nghiệp đã giảm giá bán nhà, chiết khấu đến 40-50% giá bán cũ), hoặc đàm phán gia hạn kỳ hạn của trái phiếu thì Hiệp hội này cũng đề xuất thêm một số giải pháp như: cho phép gia hạn kỳ hạn của trái phiếu thêm một năm để giảm áp lực và tăng niềm tin cho thị trường trái phiếu; cho phép nhà đầu tư cá nhân không phải là nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp được đầu tư, mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ với một tỷ lệ nhất định thông qua ủy thác cho công ty chứng khoán, đại lý phát hành có năng lực bằng các hợp đồng thương mại để đầu tư trái phiếu theo quy định, đồng thời các nhà đầu tư mua trái phiếu là cá nhân phải có văn bản cam kết đã hiểu rõ và tự chịu trách nhiệm về đầu tư trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ theo quy định tại khoản 6 Điều 1 Nghị định 65.

Hiệp hội cũng đề nghị Bộ Tài chính trình Chính phủ xem xét cho phép VAMC và ngân hàng thương mại mua lại trái phiếu doanh nghiệp và chỉ cần Chính phủ có ý kiến cho phép các tổ chức này mua lại trái phiếu doanh nghiệp thì sẽ làm tăng niềm tin cho thị trường trái phiếu và các nhà đầu tư,...

2. Trung Quốc lại phong tỏa diện rộng sau hai tuần nới lỏng

Theo Wall Street Journal (WSJ), vào ngày 23/11, Trung Quốc báo cáo gần 30.000 ca nhiễm mới - mức cao nhất từng được ghi nhận. Đại dịch COVID-19 lan rộng tại hầu khắp các khu vực trên cả nước. Các biện pháp hạn chế mới đối với cuộc sống thường nhật và hoạt động kinh tế được áp dụng ở nhiều tỉnh thành lớn gồm Bắc Kinh, Quảng Châu và Thiên Tân. Thạch Gia Trang - thành phố có 11 triệu dân ở phía tây nam thủ đô Bắc Kinh - từng cố gắng nỏi lỏng một số quy định chống dịch nhưng đã đảo ngược quyết định trong vài ngày sau khi số ca bệnh tăng đột biến. Thượng Hải cũng thắt chặt các hạn chế với du khách, dù các nhà chức trách hiện vẫn đang kiểm soát được đợt bùng phát mới. Hôm 24/11, trung tâm tài chính của Trung Quốc báo cáo thêm 68 ca nhiễm mới. Hơn 80 thành phố của Trung Quốc đang phải chống chọi với mức độ lây nhiễm cao. Thời điểm Thượng Hải bị phong toả hồi đầu năm nay, chỉ có khoảng 50 thành phố được xếp vào diện này. Hơn 80 thành phố nói trên hiện tạo ra khoảng một nửa tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của Trung Quốc và cung ứng hơn 90% nguồn hàng xuất khẩu của đất nước tỷ dân.

Theo các nhà phân tích, nếu Trung Quốc tăng trưởng yếu ớt trong năm 2023, nhu cầu năng lượng và hàng hoá của nước này sẽ giảm bớt, qua đó hạn chế áp lực lạm phát trên toàn cầu. Các NHTW, người tiêu dùng và doanh nghiệp quốc tế sẽ được hưởng lợi. Tuy nhiên, nếu chuỗi cung ứng rơi vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng tương tự như khi trung tâm tài chính Thượng Hải bị phong toả hai tháng hồi mùa xuân năm nay, áp lực giá cả ngược lại sẽ đi lên. Các nhà kinh tế và chuyên gia về chuỗi cung ứng cho biết họ lạc quan thận trọng rằng sự gián đoạn tương tự như ở Thượng Hải khó có thể xảy ra, bởi người tiêu dùng phương Tây đang thắt lưng buộc bụng. Tuy nhiên, vẫn cần lưu ý rằng vấn đề vẫn có thể phát sinh, đặc biệt là nếu các đợt phong toả ảnh hưởng đến hệ thống cảng hoặc sân bay hoặc các hạn chế vẫn tiếp diễn trong năm tới.

Một số nhà kinh tế đã hạ dự báo tăng trưởng của Trung Quốc. Ông Ting Lu, kinh tế trưởng của Nomura ở thị trường Trung Quốc, dự kiến GDP quý IV sẽ giảm 0,3% so với quý III và tăng trưởng cả năm 2022 chỉ đạt 2,8%.

Vào ngày 23/11, Hội đồng Nhà nước Trung Quốc đã cam kết sẽ nỗ lực hỗ trợ cho nền kinh tế. Hội đồng thông báo rằng NHTW Trung Quốc sẽ sớm hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các ngân hàng thương mại, cho phép họ tăng cường hoạt động cho vay.

3. Tỷ giá USD ngày 25/11: NHNN hạ tỷ giá bán tham khảo

USD Index, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với các đồng tiền chủ chốt khác hiện ở mức 105,87 theo ghi nhận lúc 7h (giờ Việt Nam). Tỷ giá euro so với USD giảm 0,08% ở mức 1,0405. Tỷ giá đồng bảng Anh so với USD giảm 0,11% ở mức 1,2104. Tỷ giá USD so với yen Nhật tăng 0,13% ở mức 138,09.

Trong nước, tỷ giá trung tâm ngày 25/11 được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố mức 23.669 VND/USD, giảm 2 đồng so với mức niêm yết hôm qua. Áp dụng biên độ 5%, hiện tỷ giá USD các ngân hàng thương mại (NHTM) được phép giao dịch là từ 22.486 - 24.852 VND/USD.

Tỷ giá USD sáng nay ghi nhận thêm một số điều chỉnh trái chiều giá mua USD khi Techcombank (HM:TCB) giảm tới 47 đồng còn Sacombank (HM:STB) tăng thêm 63 đồng, là mức đáng kể nhất ghi nhận được. Giá bán USD đồng loạt giảm từ 2 đến 4 đồng so với mức niêm yết cùng giờ sáng qua theo mức điều chỉnh của NHNN.

Giá mua USD hiện nằm trong khoảng từ 24.620 – 24.693 VND/USD với Sacombank là ngân hàng có giá mua USD cao nhất, còn giá bán ra duy trì trong phạm vi 24.850 - 24.852 VND/USD.

Trên thị trường "chợ đen", khảo sát lúc 9h30 sáng nay cho thấy đồng USD hiện được giao dịch ở mức 24.900 - 24.970 VND/USD, giá mua tăng 50 đồng còn giá bán tăng 20 đồng so với mức ghi nhận giờ này hôm qua.

Hot Auto Trade Bot Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
net_home_top Ai VIF
05-12-2022 23:48:00 (UTC+7)

EUR/USD

1.0511

-0.0027 (-0.26%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (7)

EUR/USD

1.0511

-0.0027 (-0.26%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (7)

GBP/USD

1.2179

-0.0108 (-0.88%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (10)

USD/JPY

136.49

+2.19 (+1.63%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (1)

AUD/USD

0.6721

-0.0068 (-1.00%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

USD/CAD

1.3560

+0.0092 (+0.68%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (10)

Sell (0)

EUR/JPY

143.47

+1.94 (+1.37%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (3)

Sell (3)

EUR/CHF

0.9893

+0.0022 (+0.22%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (11)

Sell (1)

Indicators:

Buy (6)

Sell (1)

Gold Futures

1,785.55

-24.05 (-1.33%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Silver Futures

22.392

-0.858 (-3.69%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (6)

Copper Futures

3.8090

-0.0415 (-1.08%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

Crude Oil WTI Futures

79.27

-0.71 (-0.89%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

Brent Oil Futures

85.01

-0.56 (-0.65%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (0)

Sell (6)

Natural Gas Futures

5.760

-0.521 (-8.29%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

US Coffee C Futures

163.05

+0.45 (+0.28%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Euro Stoxx 50

3,956.85

-21.05 (-0.53%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

S&P 500

4,021.70

-50.00 (-1.23%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

DAX

14,448.45

-80.94 (-0.56%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

FTSE 100

7,568.70

+12.47 (+0.17%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Hang Seng

19,518.29

+842.94 (+4.51%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (8)

Sell (4)

Indicators:

Buy (4)

Sell (2)

US Small Cap 2000

1,843.00

-46.98 (-2.49%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

IBEX 35

8,371.65

-10.95 (-0.13%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

BASF SE NA O.N.

48.080

-0.650 (-1.33%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (1)

Sell (8)

Bayer AG NA

53.27

-1.57 (-2.86%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (6)

Sell (0)

Allianz SE VNA O.N.

203.05

+0.40 (+0.20%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (6)

Sell (3)

Adidas AG

122.20

-2.06 (-1.66%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (3)

Sell (4)

Deutsche Lufthansa AG

7.766

+0.028 (+0.36%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

Siemens AG Class N

135.32

+0.62 (+0.46%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

Deutsche Bank AG

10.152

+0.128 (+1.28%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (6)

Sell (6)

Indicators:

Buy (4)

Sell (3)

    EUR/USD 1.0511 ↑ Sell  
    GBP/USD 1.2179 ↑ Sell  
    USD/JPY 136.49 ↑ Buy  
    AUD/USD 0.6721 ↑ Sell  
    USD/CAD 1.3560 ↑ Buy  
    EUR/JPY 143.47 Neutral  
    EUR/CHF 0.9893 ↑ Buy  
    Gold 1,785.55 ↑ Sell  
    Silver 22.392 ↑ Sell  
    Copper 3.8090 ↑ Sell  
    Crude Oil WTI 79.27 ↑ Sell  
    Brent Oil 85.01 ↑ Sell  
    Natural Gas 5.760 ↑ Sell  
    US Coffee C 163.05 ↑ Sell  
    Euro Stoxx 50 3,956.85 ↑ Sell  
    S&P 500 4,021.70 ↑ Sell  
    DAX 14,448.45 ↑ Sell  
    FTSE 100 7,568.70 ↑ Sell  
    Hang Seng 19,518.29 Buy  
    Small Cap 2000 1,843.00 ↑ Sell  
    IBEX 35 8,371.65 ↑ Sell  
    BASF 48.080 Sell  
    Bayer 53.27 ↑ Buy  
    Allianz 203.05 Buy  
    Adidas 122.20 ↑ Sell  
    Lufthansa 7.766 ↑ Buy  
    Siemens AG 135.32 ↑ Buy  
    Deutsche Bank AG 10.152 Neutral  
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,610/ 6,680
(10/ 10) # 1,473
SJC HCM6,625/ 6,705
(10/ 10) # 1,500
SJC Hanoi6,625/ 6,707
(10/ 10) # 1,502
SJC Danang6,625/ 6,707
(10/ 10) # 1,502
SJC Nhatrang6,625/ 6,707
(10/ 10) # 1,502
SJC Cantho6,625/ 6,707
(10/ 10) # 1,502
Cập nhật 05-12-2022 23:48:02
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,773.45 -25.4 -1.41%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩm Vùng 1 Vùng 2
RON 95-V23.83024.300
RON 95-III22.70023.150
E5 RON 92-II21.67022.100
DO 0.05S23.21023.670
DO 0,001S-V25.19025.690
Dầu hỏa 2-K23.56024.030
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI $79.31 +1.84 2.26%
Brent $84.95 +1.8 2.07%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD23.760,0024.070,00
EUR24.574,8925.950,11
GBP28.594,5429.812,86
JPY172,03182,11
KRW15,9819,47
Cập nhật lúc 18:53:14 05/12/2022
Xem bảng tỷ giá hối đoái
Phương Thức Thanh Toán