net_left Phương Thức Thanh Toán

Tin xấu với USD

08 Tháng Giêng 2023
Tin xấu với USD Tin xấu với USD
let atwWrapper,atwContainerWidth,atwSliderBox,atwTotalWidth; function initATWSlider() { atwWrapper = $('.relatedInstruments'); atwSliderBox = atwWrapper.find('.slider'); atwContainerWidth = atwWrapper.width(); atwTotalWidth = atwSliderBox.width(); if(window.domainId === '2' || window.domainId === '3'){ atwWrapper.find('.sliderRight').addClass('js-slider-prev'); atwWrapper.find('.sliderLeft').addClass('js-slider-next'); } else { atwWrapper.find('.sliderRight').addClass('js-slider-next'); atwWrapper.find('.sliderLeft').addClass('js-slider-prev'); } if(atwSliderBox.find('.instrumentBox').length > 6){ atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeIn(600); } } function atwMoveRight() { atwWrapper.find('.js-slider-prev').fadeIn(150); $(".slider > :visible:first").hide(150) $(".slider > :visible:last").next().show(150); if(!$(".slider > :visible:last").next().find('.name')()){ atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeOut(150); return; } } function atwMoveLeft() { atwWrapper.find('.js-slider-next').fadeIn(150); $(".slider > :visible:last").hide(150); $(".slider > :visible:first").prev().show(150); if(!$(".slider > :visible:first").prev().find('.name')()){ atwWrapper.find('.js-slider-prev').fadeOut(150); return; } } initATWSlider(); //update star icon on adding/removing instrument to/from specific watchlist atwWrapper.on('click', 'label.addRow', function() { let parent = $(this).parent(); let checkedPortfolio = false; parent.find('input[type=checkbox]').each(function () { if($(this).is(':checked')){ checkedPortfolio = true; } }); let closestStar = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); if(checkedPortfolio){ closestStar.addClass('added'); }else{ closestStar.removeClass('added'); } }); //update star icon on creating new watchlist atwWrapper.find('.js-create-watchlist-portfolio').find('a.js-create').on('click',function () { let parent = $(this).parent(); let watchlistName = parent.find('input[type=text]').val(); if(!watchlistName){ return; } let star = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); star.addClass('added'); }); //update star icon on adding new position atwWrapper.find('.js-create-holdings-portfolio').find('.js-submit').on('click',function () { let addPositionForm = $(this).closest('.addToPortfolioPop').find('.holdingsContent'); let amount = addPositionForm.find('.js-amount').val(); if(amount < 1){ return; } let star = $(this).closest('.addToPortWrapper').find('.star'); star.addClass('added'); }); atwWrapper.find('.instrumentBox').find('.shortInfo').on('click',function () { if(!window.ga){ return; } let pairId = $(this).parent().find('.js-add-to-portfolio').attr('data-pair-id'); let pairType = window.atwPairTypes[pairId]; window.ga('allSitesTracker.send', 'event', 'content', 'symbol link clicked', '', { "dimension147":"symbol_link_clicked", "dimension163":"click", "dimension148":"symbol", "dimension162":"content add to watchlist", "dimension161":"article page", "dimension142":"article", "dimension75":pairType, "dimension138":pairId, "dimension118":"2008044" }); window.open($(this).attr('data-href')); }); window.atwPairTypes = {"166":"indice","169":"indice"};

Vietstock - Tin xấu với USD

Ngày càng nhiều dấu hiệu chỉ ra lạm phát tại Mỹ đang hạ nhiệt, gần đây nhất là báo cáo về thu nhập của người Mỹ. Điều đó có thể tác động tới các động thái tiếp theo của Fed.

Theo báo cáo vừa được Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố hôm 6/1, nền kinh tế Mỹ có thêm 223.000 việc làm trong tháng 12/2022, thấp hơn mức tăng 256.000 việc làm vào tháng 11. Đây cũng là mức tăng hàng tháng thấp nhất trong vòng 2 năm.

Đó là tin xấu với USD. Bởi một khi lạm phát tại Mỹ phát đi tín hiệu hạ nhiệt rõ ràng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể lỏng tay hơn trong việc thắt chặt chính sách tiền tệ, vốn đã giúp đồng bạc xanh tăng cao trong năm 2022.

Tin vui dành cho Fed

Thu nhập của người Mỹ cũng đang giảm tốc tăng trưởng. Thu nhập trung bình mỗi giờ tăng 0,3% so với tháng trước và 4,6% so với năm trước. Trong tháng 11, 2 mức tăng này lần lượt là 0,4% và 4,8%. Điều này làm giảm bớt mối lo ngại về vòng xoáy lạm phát - tiền lương.

Vòng xoáy lạm phát - tiền lương xảy ra khi người lao động muốn một mức lương cao hơn để trang trải chi phí sinh hoạt tăng cao trong thời kỳ lạm phát. Các doanh nghiệp phải trả nhiều tiền hơn nhằm thu hút và giữ chân người lao động. Do đó, họ sẽ cần tăng giá để bù đắp chi phí.

Thị trường lao động của Mỹ vẫn còn rất nóng. Và báo cáo tháng 12 là những gì tốt nhất mà mọi người có thể hy vọng

Ông Joe Brusuelas - nhà kinh tế trưởng tại RSM US

Báo cáo tháng 12 cho thấy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng tăng từ 62,2% lên 62,3%. Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn chưa trở về mức trước đại dịch. Sự sụt giảm sẽ làm mất cân bằng cung - cầu lao động và khiến bài toán của Fed trở nên khó khăn hơn.

Các dữ liệu về thị trường lao động tại Mỹ cho thấy những động thái tăng lãi suất liên tiếp của Fed trong vòng gần một năm qua đã phát huy tác dụng.

Fed bắt đầu chu kỳ tăng lãi suất vào tháng 3/2022 để kìm hãm lạm phát. Trong năm ngoái, ngân hàng trung ương Mỹ nâng lãi suất tổng cộng 425 điểm cơ bản, đưa lãi suất điều hành lên 4,25-4,5%.

"Thị trường lao động của Mỹ vẫn còn rất nóng. Và báo cáo tháng 12 là những gì tốt nhất mà mọi người có thể hy vọng", CNBC dẫn lời ông Joe Brusuelas - nhà kinh tế trưởng tại RSM US - nhận định.

"Thị trường lao động đã đi đúng hướng như những gì Fed mong muốn, nhưng vẫn chưa đạt mục tiêu. Tăng trưởng việc làm đang chậm lại với tốc độ bền vững hơn, và tăng trưởng tiền lương cũng yếu đi khi nhu cầu trên thị trường việc làm giảm đi phần nào", ông Gus Faucher - chuyên gia kinh tế cấp cao của PNC Financial Services - lập luận.

Nhưng là tin xấu với USD

Ông Ken Kim - nhà kinh tế cấp cao tại KPMG - cho rằng các vị trí trống trong những lĩnh vực như dịch vụ chuyên nghiệp và kinh doanh lao dốc một phần do làn sóng sa thải đang tấn công ngành công nghệ. "Nó lây lan sang những khu vực khác", ông nhận xét.

Để hạ nhiệt lạm phát, Fed buộc phải đánh đổi bằng tăng trưởng của nền kinh tế và thị trường việc làm thông qua các đợt tăng lãi suất mạnh tay.

Trong bài phát biểu mới đây, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho rằng số lượng việc làm tăng "vượt xa mức cần thiết để theo kịp tốc độ gia tăng dân số". Ông khẳng định áp lực tiền lương đang góp phần tạo ra sức ép lạm phát.

"Rõ ràng, tăng trưởng tiền lương mạnh mẽ là điều tốt. Nhưng để tiền lương tăng trưởng một cách bền vững, nó cần phù hợp với mức lạm phát 2%", ông khẳng định.

Chỉ số USD rớt mạnh về dưới 104 điểm. Ảnh: Trading Economics.

Các đợt tăng lãi suất của Fed giúp thúc đẩy USD. Vào tháng 9 năm ngoái, đồng bạc xanh đã vọt lên mức cao nhất 20 năm so với rổ tiền tệ. Nhưng tính đến ngày 7/1, theo Trading Economics, chỉ số USD rơi xuống dưới 104 điểm.

Giới quan sát tin rằng đà tăng của USD khó có thể kéo dài trong năm nay. CrossBorderCapital dự báo chỉ số USD sẽ lao dốc 15-20% vào năm 2023.

"USD mạnh hơn đã đóng góp vào sự suy yếu của các tài sản rủi ro trong năm 2022", nhóm phân tích của CrossBorderCapital nhận định.

Theo đó, chính sách thắt chặt tiền tệ của Fed và dòng vốn nước ngoài đổ xô vào những tài sản trú ẩn của Mỹ đã thúc đẩy đồng bạc xanh. Đội ngũ phân tích tin rằng xu hướng này sẽ đảo ngược vào năm 2023.

Trong phiên giao dịch kết thúc tuần, chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones tăng 2,13%, còn chỉ số S&P 500 và Nasdaq tăng lần lượt 2,28% và 2,56%.

Thảo My

Để lại bình luận
Hot Auto Trade Bot Phương Thức Thanh Toán
BROKERS ĐƯỢC CẤP PHÉP
net_home_top Ai VIF
27-01-2023 22:31:35 (UTC+7)

EUR/USD

1.0867

-0.0022 (-0.20%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (6)

EUR/USD

1.0867

-0.0022 (-0.20%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (6)

GBP/USD

1.2377

-0.0029 (-0.23%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

USD/JPY

129.88

-0.32 (-0.25%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (0)

AUD/USD

0.7114

-0.0001 (-0.01%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

USD/CAD

1.3311

-0.0009 (-0.07%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (7)

Sell (5)

Indicators:

Buy (7)

Sell (0)

EUR/JPY

141.17

-0.62 (-0.44%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (6)

Sell (1)

EUR/CHF

1.0033

+0.0013 (+0.12%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (0)

Gold Futures

1,925.95

-4.05 (-0.21%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (7)

Sell (5)

Indicators:

Buy (5)

Sell (2)

Silver Futures

23.652

-0.368 (-1.53%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (2)

Sell (8)

Copper Futures

4.2272

-0.0403 (-0.94%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Crude Oil WTI Futures

81.62

+0.61 (+0.75%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (1)

Sell (11)

Indicators:

Buy (0)

Sell (11)

Brent Oil Futures

88.19

+0.72 (+0.82%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (7)

Natural Gas Futures

2.883

+0.035 (+1.23%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (6)

Sell (3)

US Coffee C Futures

168.80

+1.65 (+0.99%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (9)

Sell (1)

Euro Stoxx 50

4,171.95

-2.03 (-0.05%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

S&P 500

4,070.50

+10.07 (+0.25%)

Summary

Neutral

Moving Avg:

Buy (10)

Sell (2)

Indicators:

Buy (2)

Sell (3)

DAX

15,132.95

+0.10 (+0.00%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

FTSE 100

7,760.10

-1.01 (-0.01%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Hang Seng

22,688.90

+122.12 (+0.54%)

Summary

Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (2)

Sell (2)

US Small Cap 2000

1,903.95

+5.99 (+0.32%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

IBEX 35

9,037.72

+2.12 (+0.02%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

BASF SE NA O.N.

52.655

+0.035 (+0.07%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (2)

Sell (10)

Indicators:

Buy (0)

Sell (9)

Bayer AG NA

56.26

+0.22 (+0.39%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

Allianz SE VNA O.N.

221.30

-0.30 (-0.14%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (0)

Sell (12)

Indicators:

Buy (0)

Sell (10)

Adidas AG

147.75

+2.47 (+1.70%)

Summary

↑ Buy

Moving Avg:

Buy (12)

Sell (0)

Indicators:

Buy (8)

Sell (2)

Deutsche Lufthansa AG

9.745

+0.018 (+0.19%)

Summary

Sell

Moving Avg:

Buy (3)

Sell (9)

Indicators:

Buy (3)

Sell (5)

Siemens AG Class N

144.09

+0.03 (+0.02%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (5)

Sell (7)

Indicators:

Buy (1)

Sell (7)

Deutsche Bank AG

12.328

+0.196 (+1.62%)

Summary

↑ Sell

Moving Avg:

Buy (4)

Sell (8)

Indicators:

Buy (0)

Sell (8)

    EUR/USD 1.0867 ↑ Sell  
    GBP/USD 1.2377 ↑ Sell  
    USD/JPY 129.88 ↑ Buy  
    AUD/USD 0.7114 ↑ Sell  
    USD/CAD 1.3311 ↑ Buy  
    EUR/JPY 141.17 ↑ Buy  
    EUR/CHF 1.0033 ↑ Buy  
    Gold 1,925.95 Buy  
    Silver 23.652 ↑ Sell  
    Copper 4.2272 ↑ Sell  
    Crude Oil WTI 81.62 ↑ Sell  
    Brent Oil 88.19 ↑ Sell  
    Natural Gas 2.883 ↑ Buy  
    US Coffee C 168.80 ↑ Buy  
    Euro Stoxx 50 4,171.95 ↑ Sell  
    S&P 500 4,070.50 Neutral  
    DAX 15,132.95 ↑ Sell  
    FTSE 100 7,760.10 ↑ Sell  
    Hang Seng 22,688.90 Buy  
    Small Cap 2000 1,903.95 ↑ Sell  
    IBEX 35 9,037.72 ↑ Sell  
    BASF 52.655 ↑ Sell  
    Bayer 56.26 ↑ Sell  
    Allianz 221.30 ↑ Sell  
    Adidas 147.75 ↑ Buy  
    Lufthansa 9.745 Sell  
    Siemens AG 144.09 ↑ Sell  
    Deutsche Bank AG 12.328 ↑ Sell  
Mua/Bán 1 chỉ SJC
# So hôm qua # Chênh TG
SJC Eximbank6,720/ 6,820
(30/ 30) # 1,331
SJC HCM6,750/ 6,850
(60/ 60) # 1,361
SJC Hanoi6,750/ 6,852
(60/ 60) # 1,363
SJC Danang6,750/ 6,852
(60/ 60) # 1,363
SJC Nhatrang6,750/ 6,852
(60/ 60) # 1,363
SJC Cantho6,750/ 6,852
(60/ 60) # 1,363
Cập nhật 27-01-2023 22:31:38
Xem lịch sử giá vàng SJC: nhấn đây!
ↀ Giá vàng thế giới
$1,925.01 -5.56 -0.29%
Live 24 hour Gold Chart
ʘ Giá bán lẻ xăng dầu
Sản phẩm Vùng 1 Vùng 2
RON 95-V23.01023.470
RON 95-III22.15022.590
E5 RON 92-II21.35021.770
DO 0.05S21.63022.060
DO 0,001S-V23.39023.850
Dầu hỏa 2-K21.80022.230
ↂ Giá dầu thô thế giới
WTI $81.82 -0.58 -0.72%
Brent $88.10 -0.73 -0.83%
$ Tỷ giá Vietcombank
Ngoại tệMua vàoBán ra
USD23.260,0023.630,00
EUR24.857,5526.249,47
GBP28.270,1829.475,66
JPY175,71186,02
KRW16,4320,02
Cập nhật lúc 18:54:25 27/01/2023
Xem bảng tỷ giá hối đoái
Phương Thức Thanh Toán